Người đã có nhà, có phần vốn trong công ty hay một cửa hàng đang chạy trước khi cưới nên dành một buổi với cố vấn để trả lời hai câu: tài sản nào sẽ còn là tài sản riêng sau khi cưới, và mình muốn những thứ tạo ra sau khi cưới thuộc về ai. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy tắc mặc định cho cả hai câu, và quy tắc đó có khi khác với điều đôi bên nghĩ.
Ví dụ dễ bất ngờ nhất: căn hộ mua trước khi cưới là tài sản riêng, nhưng tiền cho thuê căn hộ đó sau khi cưới thì theo quy tắc mặc định lại là tài sản chung. Bài này không bàn chuyện có nên ký thoả thuận tài sản hay không, đó là quyết định riêng của hai người. Bài chỉ ra những gì nên biết và nên chuẩn bị để quyết định đó được đưa ra với đủ thông tin.
Quy tắc mặc định cần biết trước ngày cưới
Nếu hai bên không có thoả thuận khác về chế độ tài sản, các nguyên tắc chính của chế độ tài sản theo luật định như sau:
| Loại tài sản | Theo quy tắc mặc định | Hay bị hiểu sai thành |
|---|---|---|
| Tài sản có trước khi kết hôn | Tài sản riêng của người đó | Cưới rồi là của chung |
| Tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong hôn nhân | Tài sản riêng | Nhận trong lúc là vợ chồng thì là của chung |
| Thu nhập từ lao động, kinh doanh trong hôn nhân | Tài sản chung | Ai làm ra thì của người đó |
| Hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng (tiền thuê, cổ tức) | Tài sản chung | Tài sản riêng sinh ra thì vẫn riêng |
| Tài sản mua bằng tài sản riêng | Tài sản riêng, nếu chứng minh được | Mua sau cưới thì chắc chắn chung |
| Tài sản không chứng minh được là riêng | Coi là tài sản chung | Tên ai trên giấy thì của người đó |
Bảng là nguyên tắc chung theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Những trường hợp đặc biệt, như tài sản riêng đã được nhập vào tài sản chung, cần được xem cụ thể.
Giữ chứng cứ tài sản riêng ngay từ bây giờ
Quy tắc "không chứng minh được là riêng thì coi là chung" khiến chứng cứ trở thành thứ quan trọng nhất. Việc chứng minh dễ nhất là khi làm ngay trước ngày cưới, lúc mọi giấy tờ còn trong tay và chưa có tài sản chung nào lẫn vào. Mười năm sau, khi tài sản đã được bán đi mua lại, tiền đã chuyển qua nhiều tài khoản, việc lần lại nguồn gốc khó hơn rất nhiều.
Những thứ nên giữ: giấy chứng nhận nhà đất có ngày cấp hoặc ngày đăng ký biến động trước ngày cưới, hợp đồng mua bán, sao kê tài khoản ngân hàng tại thời điểm gần ngày cưới, giấy chứng nhận góp vốn, sổ đăng ký thành viên công ty, giấy tờ đăng ký hộ kinh doanh. Với tiền mặt hay vàng, việc chứng minh khó hơn; một số người chọn gửi vào tài khoản hoặc ghi nhận bằng văn bản trước khi cưới.
Sau khi cưới, nếu dùng tài sản riêng để mua tài sản mới, cũng nên giữ dấu vết: bán căn hộ riêng, tiền về tài khoản riêng, chuyển thẳng từ tài khoản đó sang bên bán căn nhà mới. Dòng tiền rõ ràng là căn cứ tốt hơn mọi lời khai.
Nếu bạn đang có cửa hàng, công ty
Phần vốn góp có trước khi cưới. Phần vốn góp trong công ty có trước hôn nhân là tài sản riêng. Lợi nhuận được chia trong thời kỳ hôn nhân thì theo quy tắc mặc định là tài sản chung. Nếu công ty tăng vốn, người góp thêm bằng tiền chung thì phần vốn mới có thể là tài sản chung.
Hộ kinh doanh. Cửa hàng đăng ký hộ kinh doanh trước khi cưới, sau khi cưới người vợ hoặc chồng tham gia bán hàng, bỏ thêm tiền nhập hàng: ranh giới riêng – chung trở nên mờ rất nhanh. Nên bàn trước người kia có tham gia không, tham gia với tư cách gì.
Rủi ro nợ kinh doanh. Nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh nhằm tạo thu nhập cho gia đình có thể bị coi là nghĩa vụ chung của vợ chồng. Đây là lý do nhiều người chọn kinh doanh qua công ty trách nhiệm hữu hạn thay vì hộ kinh doanh khi quy mô lớn dần.
Thành viên khác trong công ty. Nếu công ty có nhiều thành viên, các thành viên khác có thể lo ngại việc vợ hoặc chồng của bạn trở thành người có quyền với phần vốn khi ly hôn. Điều lệ công ty có thể đã có quy định về chuyển nhượng; nên đọc lại trước khi cưới.
Tài sản trí tuệ và tài sản số. Nhãn hiệu đăng ký tên cá nhân, tên miền, trang bán hàng có nhiều người theo dõi cũng là tài sản. Ghi lại thời điểm đăng ký và người đứng tên trước ngày cưới giúp phân định về sau, nhất là khi người kia cùng xây dựng trang sau khi cưới.
Chế độ tài sản theo thoả thuận: biết để quyết
Luật cho phép hai người chọn chế độ tài sản theo thoả thuận thay cho chế độ theo luật định. Thoả thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, và có hiệu lực từ ngày đăng ký kết hôn. Nội dung có thể xác định tài sản nào là chung, tài sản nào là riêng, cách xử lý hoa lợi, cách chia khi chấm dứt chế độ tài sản.
Thoả thuận không được trái các nguyên tắc chung, chẳng hạn không được làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền được cấp dưỡng, quyền thừa kế hay lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, con và thành viên khác trong gia đình. Một thoả thuận soạn vội hoặc chép mẫu trên mạng dễ có điều khoản vô hiệu.
Ở Việt Nam, ít cặp đôi ký thoả thuận này, phần vì ngại, phần vì chưa biết. Cố vấn không khuyên ký hay không ký, nhưng giúp hai người thấy hậu quả của từng lựa chọn. Có cặp chỉ cần giữ chứng cứ tài sản riêng cho tốt là đủ; có cặp có công ty, có con riêng, có nghĩa vụ với cha mẹ thì thoả thuận rõ ràng giúp cả hai yên tâm hơn. Ngoài ra, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng vẫn có thể thoả thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, theo điều kiện luật định.
Ví dụ giả định: cùng một căn hộ, hai kết cục sau mười năm
Chị Lan mua một căn hộ ở Đà Nẵng ba năm trước khi cưới, đứng tên mình, trả hết tiền. Sau cưới, hai vợ chồng ở nhà thuê gần chỗ làm của chồng, căn hộ được cho thuê. Mười năm sau, hai người ly hôn. Căn hộ vẫn là tài sản riêng của chị Lan, nhưng tiền thuê thu được trong mười năm, nếu không có thoả thuận khác, là tài sản chung. Nếu số tiền đó đã được dùng để mua chiếc ô tô đứng tên chị, chiếc xe cũng là tài sản chung cần chia.
Trường hợp thứ hai: ngay sau cưới, chị Lan bán căn hộ và cùng chồng mua một căn nhà lớn hơn, đứng tên cả hai, phần chênh lệch vay ngân hàng và trả bằng thu nhập chung. Khi ly hôn, căn nhà mới rất có thể được coi là tài sản chung toàn bộ, vì việc đứng tên cả hai thể hiện ý chí nhập tài sản. Phần tiền từ căn hộ riêng có được tính lại cho chị hay không còn tuỳ chứng cứ và cách toà án đánh giá công sức đóng góp.
Hai kết cục này không phải để khuyên ai giữ riêng hay góp chung. Chúng cho thấy cùng một tài sản ban đầu, các quyết định nhỏ sau cưới như cho thuê, bán, đứng tên ai, làm thay đổi hẳn bức tranh. Đây là loại quyết định nên hỏi cố vấn ngay trước khi làm.
Chuẩn bị cho buổi gặp cố vấn trước cưới
Buổi gặp có thể là một người hoặc cả hai cùng đi. Nếu cả hai cùng đi, nên thống nhất trước là buổi gặp để hiểu luật, không phải để mặc cả. Chuẩn bị:
- Danh sách tài sản hiện có của mỗi người, kèm giấy tờ và ngày có tài sản.
- Danh sách nợ, khoản vay, bảo lãnh của mỗi người, vì nợ riêng trước hôn nhân vẫn là nghĩa vụ riêng nhưng có thể ảnh hưởng cuộc sống chung.
- Kế hoạch sau cưới: ở nhà của ai, có mua nhà mới không, người kia có tham gia kinh doanh không.
- Hoàn cảnh đặc biệt: có con riêng, có nghĩa vụ chăm cha mẹ, có tài sản ở nước ngoài.
- Những câu hỏi mỗi người lo nhất, nói thẳng ra.
Nếu muốn hiểu sơ bộ các khái niệm trước, bạn có thể hỏi luật sư trên AI Cố Vấn. Nhưng phần soạn văn bản, nếu hai người chọn ký thoả thuận, nên để người làm nghề làm và hai bên cùng đọc kỹ trước khi công chứng.
Nói chuyện tài sản mà không làm tổn thương nhau
Nhiều người né chủ đề này vì sợ bị hiểu là thiếu tin tưởng. Cách mở lời dễ hơn là bắt đầu từ thông tin chung, không bắt đầu từ đề xuất: cùng tìm hiểu luật mặc định, cùng xem quy tắc hoa lợi từ tài sản riêng, rồi mới hỏi nhau muốn giữ nguyên hay muốn sắp xếp khác.
Một cách khác là để chuyện tài sản gắn với chuyện bảo vệ người thứ ba: con riêng của một bên, cha mẹ già đang ở trong căn nhà riêng, các thành viên khác trong công ty gia đình. Khi lý do là bảo vệ người khác, cuộc trò chuyện thường nhẹ nhàng hơn.
Cuối cùng, dù chọn cách nào, nên ghi lại điều hai người đã thống nhất, kể cả khi không ký thoả thuận chính thức. Một ghi chú chung về việc ai bỏ tiền mua cái gì, dùng tài khoản nào cho chi tiêu chung, có thể giúp nhiều năm sau không ai phải tranh luận về trí nhớ. Ghi chú đó cũng hữu ích cho chính con cái của hai người, nếu một ngày họ phải làm thủ tục thừa kế mà cha mẹ không còn ở đó để giải thích tài sản nào có nguồn gốc từ đâu.
Câu hỏi thường gặp
Căn hộ mua trước khi cưới, sau cưới hai vợ chồng cùng trả nốt nợ ngân hàng thì là của ai?
Căn hộ vẫn có thể là tài sản riêng, nhưng phần tiền chung đã dùng trả nợ có thể làm phát sinh yêu cầu thanh toán lại hoặc tranh chấp về phần đóng góp. Cách xử lý tuỳ chứng cứ và thoả thuận của hai bên, nên hỏi cố vấn trên giấy tờ cụ thể.
Thoả thuận tài sản ký sau khi đã đăng ký kết hôn có được không?
Thoả thuận chọn chế độ tài sản theo thoả thuận phải lập trước khi kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng vẫn có thể thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo điều kiện luật định, nhưng đó là một văn bản khác với hệ quả khác.
Tiền lương của mỗi người sau khi cưới là của chung hay riêng?
Theo chế độ tài sản theo luật định, thu nhập do lao động trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung, dù gửi vào tài khoản đứng tên ai. Hai người có thể thoả thuận cách quản lý, chi tiêu, nhưng bản chất chung không đổi nếu không có thoả thuận hợp lệ khác.
Đưa tài sản riêng vào dùng chung có làm mất tính riêng không?
Nếu tài sản riêng được nhập vào tài sản chung, chẳng hạn chuyển sang đứng tên cả hai hoặc có thoả thuận nhập, thì có thể trở thành tài sản chung. Chỉ cho người kia cùng sử dụng thường không làm thay đổi quyền sở hữu, nhưng nên giữ giấy tờ rõ ràng.
Có nên giữ nhà riêng đứng tên mình hay đổi sang tên cả hai sau khi cưới?
Đó là quyết định của hai người. Đổi sang tên cả hai thường được coi là nhập vào tài sản chung, có hệ quả khi ly hôn hoặc thừa kế. Nếu muốn giữ riêng mà vẫn bảo đảm chỗ ở cho người kia, có những cách khác nên bàn với cố vấn.
Cố vấn có tư vấn cho cả hai người cùng lúc được không?
Cố vấn có thể giải thích luật cho cả hai trong cùng một buổi. Khi hai người có lợi ích khác nhau, như khi soạn thoả thuận chia tài sản, mỗi bên nên cân nhắc có người tư vấn riêng để chắc rằng quyền lợi của mình được xem xét đầy đủ.